Mới đây, vụ bà Nguyễn Thị Kim Cúc (nguyên cán bộ Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp) thoát tội nhận đút lót sau năm phiên xử do chứng cứ cáo buộc yếu đã gây xốn xang dư luận địa phương. Bằng cớ cáo buộc không vững Sáng 6-5-2009, Nguyễn Văn Chính (viên chức tài xế Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp) bị công an bắt quả tang đang nhận 1.000 USD của một gia đình để lo cho một hồ sơ đăng ký hôn phối với người nước ngoài. Tại cơ quan điều tra, Chính khai mình chỉ là người môi giới, nhận tiền cho bà Cúc vì bà Cúc là người trực tiếp phỏng vấn các đương sự. Chính khai cả hai đã thực hành trơn tru hai vụ, Chính nhận 20 triệu đồng đưa cho bà Cúc, sau đó bà Cúc đưa lại cho Chính 4 triệu đồng... Tháng 3-2010, xử sơ thẩm, TAND TP Cao Lãnh đã phạt bà Cúc chín năm tù về tội nhận đút lót, Chính năm năm tù về tội môi giới đút lót. Bà Cúc kháng cáo kêu oan, còn Chính kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bốn tháng sau, TAND tỉnh Đồng Tháp xử phúc án đã bác lời kêu oan của bà Cúc. Tuy nhiên, tòa xem xét hai bị cáo nhân ái thân tốt nên giảm nhẹ hình phạt cho bà Cúc còn năm năm tù, Chính còn hai năm tù. Tháng 9-2011, TAND vô thượng đã ra quyết định giám đốc thẩm, hủy cả hai bản án sơ, phúc thẩm để điều tra, xét xử lại vì chứng cớ cáo buộc chưa chắc chắn và có những sơ sót về tố tụng. Tháng 11-2012, xử sơ thẩm lần hai, TAND TP Cao Lãnh nối phạt bà Cúc tám năm tù, Chính ba năm tù. Việc các tòa bạo dạn tuyên bị cáo vô tội khi xét xử trong các trường hợp bằng chứng yếu là điều tiến bộ, cần phải nhân rộng. Ảnh minh họa: HTD Đến phiên phúc thẩm lần hai ngày 1-7 vừa qua, TAND tỉnh Đồng Tháp đã tuyên bà Cúc không phạm tội, còn Chính vẫn y án ba năm tù. Theo tòa, ngoài lời khai của Chính thì không có chứng cớ khác chứng minh bà Cúc nhận hối lộ. Dù Chính khai có gọi điện thoại cho bà Cúc nói về hồ sơ kết hôn, giá cả, thời giờ phỏng vấn nhưng nội dung những cuộc gọi này không xác định được, trong khi bà Cúc phủ nhận. Mặt khác, nhân ái chứng khai biết chuyện Chính nhận, đưa tiền cho bà Cúc nhưng cũng chỉ nghe Chính kể lại. Tình tiết này thiếu khách quan nên không thể công nhận là chứng cứ buộc tội bà Cúc như lý lẽ của cấp sơ thẩm. Song song, việc cấp sơ thẩm nhận định bà Cúc có thể sắp đặt hồ sơ phỏng vấn là chưa đủ cơ sở. Đây là phán đoán chung chung, không khẳng định được một trường hợp cụ thể nào. Như vậy, việc án sơ thẩm chỉ dựa vào lời khai của Chính để cáo buộc bà Cúc là không đúng Điều 72 BLTTHS (lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là bằng cớ nếu hạp với các bằng cớ khác của vụ án. Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm bằng cớ độc nhất để cáo buộc). Tòa phải bạo dạn tuyên bị cáo vô tội Ngóng ở giác độ tố tụng, nhiều chuyên gia đánh giá cao việc TAND tỉnh Đồng Tháp tuyên bị cáo không phạm tội. Bởi lẽ thực tiễn, trong rất nhiều vụ án mà chứng cớ buộc tội không chắc chắn rưa rứa, thay vì bạo dạn tuyên bị cáo vô tội, nhiều hội đồng xét xử hoặc là trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc là vẫn cố kết tội, tuyên xử. Chả hạn vụ bị cáo LQĐ bị TAND một quận tại TP.HCM phạt hai năm tù về tội đánh cắp tài sản. Theo hồ sơ cáo buộc, tối 24-12-2011, đi ngang thấy bà T. Ngủ quên trên ghế trước cửa nhà, Đ. Lẻn vào tìm tài sản trộm cắp. Hai người láng giềng gần đó phát hiện bèn đánh thức, ra hiệu cho bà T. Biết. Bà T. Vào nhà thì thấy Đ. Đang dẫn chiếc xe máy từ bếp ra gần đến cửa. Bà T. Tri hô, Đ. Bỏ xe chạy mất. Bà Đ. Đánh thức con gái, cháu nội dậy kể lại chuyện đã xảy ra. Một lúc sau, thấy Đ. Đi ngang, con gái bà T. Đã tri hô và được bảo vệ dân phố tương trợ bắt Đ. Giao công an. Từ thời đoạn điều tra, Đ. Đã không nhận tội. Ra tòa, Đ. Khẳng định hồ sơ miêu tả Đ. Bị bắt vì phạm tội quả tang là không đúng. Đ. Bảo mình vừa đi ngang nhà bà T. Thì bị bắt chứ không phải quay lại lần thứ hai như hồ sơ thể hiện. “Không có kẻ trộm nào đã bị phát hiện rồi còn ngang nhiên quay lại để bị bắt, nhất là ở đó gần trạm gác của công an, dân phòng. VKS buộc tội như thế, bị cáo không phục” - Đ. Nói. Nhìn lại hồ sơ kết tội, cơ quan điều tra cốt dựa vào lời khai của hai láng giềng của bà T. Cùng lời khai của phía nạn nhân. Hai hàng xóm khai có thấy Đ. Vào nhà nên cảnh báo bà T. Dù không biết Đ. Có lấy gì hay không. Cháu bà T. Thì khai khi được bà T. Thông báo đã chạy từ trên lầu xuống, nhìn thấy xe máy bị dịch chuyển một đoạn. Vụ việc còn những điểm chưa rõ: hàng xóm của bà T. Khai lần thứ nhất kẻ trộm vào nhà bà T. Có đội mũ bảo hiểm màu vàng. Nhưng ở lần thứ hai bắt Đ. Thì không thấy chiếc mũ bảo hiểm đó. Mặt khác, việc chiếc xe máy có xê dịch vị trí hay không chỉ có cháu bà T. Khai. Ngoài ra, trường hợp bắt Đ. Không phải là bắt người phạm tội quả tang mà chỉ là “bắt nguội”... Nên nhân rộng Theo TS Nguyễn Duy Hưng (Trưởng khoa Luật Trường ĐH Thủ Dầu Một, Bình Dương), BLTTHS hiện hành quy định không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án buộc tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Song song, BLTTHS cũng cụ thể hóa nghĩa vụ chứng minh tầy thuộc về các cơ quan tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội. Do vậy, một khi cơ quan tố tụng không đủ chứng cứ rõ ràng, kiên cố để kết tội thì nên phán đoán theo hướng có lợi cho bị can, bị cáo. Việc các tòa dạn dĩ tuyên bị cáo vô tội trong các trường hợp này là điều tiến bộ, cần phải nhân rộng. Quan toà Phạm Công Hùng (Tòa phúc án TAND vô thượng tại TP.HCM) cũng cho biết: “Một khi không chứng minh được bị can, bị cáo phạm tội thì chẳng thể kéo dài vụ án mãi bằng cách trả hồ sơ để điều tra bổ sung mà phải chấp nhận là chẳng thể buộc tội được họ”.
HOÀNG YẾN |
Tuesday, July 30, 2013
Chứng cứ yếu, không nên cố xử!
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment